Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Kienhoxuan.blogspot.com _ được thu thập bởi Hồ Xuân Kiên.

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

11-04-2014

HỌC ĐỂ HIỂU "TRÁCH NHIỆM" CỦA BẢN THÂN - Trích sách Khuyến Học, và một vài suy nghĩ về mấy sự kiện bức xúc trong ngày

          
Như tôi đã nói ở trên kia, "độc lập và tự do" dựa trên đạo lý của Trời đã trở thành nguyên tắc trong từng người cũng như của cả quốc gia chúng ta. Nếu như có kẻ gây phương hại đến nguyên tắc này thì dù có phải biến cả thế giới thành kẻ thù, chúng ta cũng không sợ, huống hồ chúng ta lại phải sợ một số quan chức chính phủ lộng quyền?            
Giờ đây, chúng ta đã xác lập được tinh thần cơ bản: mọi người dân đều bình đẳng, vì thế chúng ta hãy yên tâm phát huy mọi khả năng sức lực và trí tuệ của mình.            
Mỗi người đều có mỗi bổn phận, do đó phải tự vun đắp tài năng, rèn luyện nhân cách sao cho xứng đáng với bổn phận đó. Để làm được điều này, ai ai cũng phải học chữ, học ngôn ngữ. Có chữ, biết ngôn ngữ sẽ lý giải được mọi đạo lý của sự vật.            
Nói đến đây chắc các bạn sẽ hiểu giúp tôi rằng: Học vấn là vấn đề cấp bách biết nhường nào.            
Hiện nay, tầng lớp thường dân cũng đã sánh vai ngang hàng với tầng lớp Võ sĩ (samurai), cho nên con đường được lựa chọn vào các chức vụ trong chính quyền cũng mở ra cho chúng ta nếu chúng ta có tài.
Chúng ta phải tự giác trước bổn phận của bản thân, không chạy theo những hành động rồ dại, phải cẩn trọng.            
Tôi chắc rằng không ai đáng thương hại hơn là những người vô tri thức, những người không hiểu lẽ phải, và cũng không ai khó giao tiếp hơn những người ấy. Vì không có tri thức, không có năng lực tự thức tỉnh nên họ căm ghét oán giận những người giàu có chính đáng, đôi khi họ tập hợp thành bầu đoàn đi đánh cướp.
Bản thân họ được pháp luật bảo vệ, nhưng hễ cứ cảm thấy bất lợi cho mình thì họ lại thản nhiên vi phạm, ngang nhiên phá luật.            
Lại không có ít người, có được chút ít tài sản, tiền bạc thì chỉ lo tích trữ, cất giấu, không bao giờ suy nghĩ đầu tư cho con cháu học hành. Vì thế con cháu họ chỉ biết ăn chơi, lêu lổng, dốt nát và cứ thế tiêu pha tàn phá tài sản của ông cha mình.
Đối với nhũng người như vậy, không thể mang đạo lý ra để giảng giải mà chỉ có cách là dùng uy lực đe doạ chứ không có cách nào khác. Ám chỉ điều này, người phương Tây có câu tục ngữ: "Dân ngu tự chuốc lấy chính sách bạo tàn." Người dân tử tế nghiêm túc thì chính phủ cũng buộc phải tử tế nghiêm túc.
Nước Nhật chúng ta có dân, trên dân có chính phủ. Phẩm cách của dân rơi vào vòng ngu tối, vô học thì luật pháp của chính phủ cũng trở nên hà khắc. Nhưng nếu quốc dân có chí học hành, tiếp thu văn minh thì không có cách nào khác, chính phủ cũng sẽ quảng đại, nhân đạo.            
Luật nước hà khắc hay quảng đại hoàn toàn tuỳ thuộc vào thái độ, phẩm cách của quốc dân.            
Có người dân nào lại mong muốn một chế độ chính trị tàn bạo?            
Có người dân nào lại mong muốn cho đất nước kém phát triển?            
Có người dân nào lại mong cho nước mình bị ngoại bang khinh miệt?
Không và không thể có. Đó chính là tình con người trong mỗi chúng ta.
Nếu như ai ai cũng một lòng một dạ báo đáp cho Tổ quốc, nơi mình sinh thành thì chúng ta không bao giờ phải lo nghĩ hay bất an đến tương lai, đến tiền đồ của Nhật Bản. Mục đích của chúng ta chỉ có một: giữ gìn hoà bình cho đất nước.
Do vậy, điều quan trọng hơn bât kỳ điều gì khác là mỗi người chúng ta ai ai cũng phải học hành, mở mang kiến thức, mài giũa tài năng, nhân cách sao cho xứng đáng với bổn phận của mình.            
Ngược lại, chính phủ phải có trách nhiệm soạn thảo và thông báo đến mọi người dân những chính sách dễ hiểu. Mục tiêu duy nhất cho chính phủ là phải mang lại cuộc sống ấm no yên ổn cho dân.            
Những lời về học vấn mà tôi khuyên nhủ các bạn cũng chỉ nhằm tới điều này.            
Nhân dịp khai trương "Keio Nghĩa thục" tại quê tôi, huyện Nakatsu tỉnh Oita, tôi chấp bút viết chương này đưa cho bạn bè, đồng hương xem. Nhiều bạn hữu, sau khi đọc xong, nói với tôi rằng: Bài này không chỉ cho bạn bè, đồng hương mà nên gởi tới bạn đọc gần xa nữa, như vậy sẽ có hiệu quả hơn, nên tôi đã cho in thành nhiều bản để các bạn cùng đọc.
Tháng 2 năm Minh Trị thứ năm (tức năm 1871)
Trích Phần I, sách Khuyến Học – Fukuzawa Yukichi, Nxb Trẻ, 2004.

KHX:
Mình hay đọc Khuyến Học, gần như mỗi ngày. Và mỗi lần đọc, dù không đọc một lần hết cả quyển nhưng đọc câu nào là thấm thía câu đấy. Đọc dòng nào là thấm thía dòng đấy. Nó không chỉ đơn thuần là một cuốn sách “khuyến học” theo nghĩa thông thường. Fukuzawa đã cho rằng, mục đích của cuốn khuyến học không chỉ đơn thuần là đọc sách, mà là đề cập đến những tinh thần cơ bản của con người, đề cập đến mục đích thực sự của học vấn. Rằng nếu như một người đọc nhiều sách, học nhiều mà không tự nuôi nổi bản thân, thì người đó không thể là một người có học vấn được. Rằng kiếm kế sinh nhai cũng là học vấn. Và đã học thì phải có trách nhiệm với bản thân mình, phải có trách nhiệm với lợi ích của quốc gia dân tộc. Và phải thi hành được trách nhiệm ấy.
Và hôm nay, khi đọc phần này. Học để hiểu trách nhiệm của bản thân. Để thấy rằng, ngoài những mục đích của việc học như kiếm miếng cơm manh áo, để làm giàu, để phục vụ cho đất nước. Nhưng trước hơn hết là để hiểu trách nhiệm của bản thân mình. Có trách nhiệm với chính bản thân, với gia đình, với làng xã, với đất nước, quê hương.
Nhưng thật bất ngờ, mà có lẽ cũng chẳng có gì làm bất ngờ lắm, khi mà ông chủ tịch quốc hội đương nhiệm của nước ta, ông Nguyễn Sinh Hùng, lại có thể phát biểu như thế này: “Theo Chủ tịch, Quốc hội là cơ quan lập pháp, nếu quyết sai cũng phải nhận khuyết điểm chứ không phải kỷ luật, Chủ tịch Quốc hội cũng không phải người đứng đầu Quốc hội. Vì thế, không thể vì cả 500 đại biểu bỏ phiếu mà kỷ luật cả 500 vị hay kỷ luật ông Chủ tịch.
“Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai”, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh.” ( Theo tờ VnEconomy.vn, bài Đầu tư công: Quyết sai thì ai chịu của tác giả Nguyên Lê, đăng ngày 11-4-2014).
Một người đứng đầu cơ quan lập pháp mà lại phát ngôn như vậy, thử hỏi làm sao mà đất nước có thể phát triển được. Ấy vậy mà chúng ta, những người dân nước Việt vẫn phải chịu sự lãnh đạo của họ, những nhà lãnh đạo “vô cùng tài ba”. Với tình hình nợ công, đó là chuyện của kinh tế, nhưng kinh tế là nguồn gốc, quyết định chính trị. Hay như vụ việc đường Trường Chinh ở Hà Nội bị bẻ cong đang rầm rộ trên báo chí nhiều ngày nay. Chúng ta có thể thấy, những phát ngôn của các quan chức trong các ngành có liên quan, có thể mang ra để tấu hài được.
Nhưng người dân thì sao? Họ muốn yên thân, hay người ta đang vô cảm với chính bản thân mình, như cái vô cảm đang thường nhật trong mỗi con người khi lưu thông trên đường, khi ra ngoài xã hội. Và rồi, họ vô cảm với chính cuộc sống của chính họ.
Tại sao ngày càng nhiều người dân chết trong phòng giam công an huyện, khi mà còn chưa rõ tội danh của họ?
Tại sao khi công an đánh chết người, lại chỉ xử án treo, còn người dân phạm tội thì lại xử thật nặng để răn đe. Răn đe ai bây giờ?
Tại sao công an, cảnh sát, an ninh lại nhiều và đông như vậy. Nó như món hàng đắt giá được rao bán công khai?
Tại sao? Tại sao? và còn nhiều cái tại sao nữa???
Do người dân đã không ý thức được trách nhiệm của bản thân, hay không được học một cách tử tế để hiểu được những trách nhiệm ấy. Hay do nhà nước có những “ông quan” chỉ biết nói những câu hề tuồng trước mặt đám báo chí “chỉ có thể được nịnh mà chẳng được chê”?


18-03-2014

Bài đọc được trên Chungta.com: Tại sao người Nhật mê đọc sách?

Tại sao người Nhật mê đọc sách?
Nguyễn Xuân Xanh2

- Không có thú vui nào trên thế giới có thể so sánh được với thú vui đọc sách. Khi người ta cảm nhận được sự đàm thoại riêng tư với thế giới người hiền, thì đó là thú vui duy nhất không lệ thuộc vào người khác.. (Kaibara Ekken (1630-1714)
- Chúng ta có thể nhân bản hơn bằng cách trở thành hoàn vũ hơn.
(Okakura Tenshin (1862-1913)


Tóm tắt
Những lý do nào khiến dân tộc Nhật đã có một văn hoá đọc có thể nói vào bậc nhất thế giới? Văn hoá đọc này không phải chỉ bỗng dưng bùng nổ vào thời Minh Trị Duy Tân 1868 khi đất nước được mở cửa, hướng về phương Tây, mà có gốc rễ sâu xa từ thời Tokugawa 1600-1868, từ lúc dân tộc chỉ có văn hoá võ sĩ trên chiến trường, từ lúc thầy tu khoẻmạnh cũng muốn ra trận để thi thố tài năng đi tìm hạnh phúc. Cách đây 300 năm Nhật Bản đã có những con số "khủng" về giáo dục và văn hoá đọc. Những lý do nào khiến cho một dân tộc võ sĩ lại trở thành mê đọc sách như thế? Và đọc sách để làm gì? Tại sao không phải các dân tộc có truyền thống văn sâu đậm như Trung Hoa hay Việt Nam mà lại một dân tộc có truyền thống võ như Nhật Bản? Hai trăm sáu mươi năm tự đóng kín cửa như "hến" sau khi đuổi hết người truyền giáo phương Tây khỏi nước (cùng thời với Việt Nam), nhưng tại sao mảnh đất Nhật Bản lại "ngậm" được viên ngọc 'Tây học' (Western learning, thông qua 'Lan học', Rangaku) hình thành bên trong, từ chất "nọc độc của người man di", để rồi viên ngọc khai minh đó biến thành quốc sách thời Minh Trị? Một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử: châu Âu đã từng có cuộc dịch thuật vĩ đạithế kỷ 11 và 12 lúc đại học châu Âu ra đời để làm nền tảng phát triển khoa học và văn hoá, thì tương tự, ở phương Đông, Nhật Bản cũng đã có cuộc dịch thuật vĩ đại của mình trong hai thế kỷ thời đóng cửa, giúp chuyển hệ hình tư duy kiểu phong kiến Trung Hoa sang hệ hình khoa học hiện đại phương Tây dù tầng lớp trí thức ở Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của Khổng giáo, có thể sâu đậm hơn cả giới trí thức Việt Nam cùng thời. Cuộc dịch thuật là khó nhọc và không kém phần nguy hiểm, nhưng trí thức Nhật Bảnđã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của mình đối với quốc gia, rằng họ không thể yêu nước trong sự vô minh.Đọc sách là việc làm của lòng yêu nước, không phải chỉ để thưởng ngoạn, mà để khai minh và khai sinh một thời đại mới cho đất nước.Đọc sách là thuộc tính của một dân tộc văn hoá có ý thức. Họ không sợ học của kẻ thù, chỉ sợngu muội vì không học. Và họ đã thành công.
Người ta đã từng nghe nói vềsự đọc sách khủngcủa người Nhật thời Minh Trị Duy Tân, cách chúng ta hôm nay ngót một thế kỷ rưỡi. Thí dụ minh hoạ thường là quyển sách Bàn về Tựdo, On Liberty, của John Stuart Mill. Sách được xuất bản ở Anh năm 1859, cùng năm với tác phẩm "Thuyết tiến hoá" của Charles Darwin. Bàn về Tự do là một quyển sách rất có ảnh hưởng ở phương Tây, và ngày nay vẫn còn tiếp tục được đọc. Khi được dịch sang tiếng Nhật quyển sách đã bán trên triệu bản.
Một quyển sách khác, có lẽ ít được biết hơn đối với độc giả Việt Nam, là Tự lo, Self-Help của Samuel Smiles. Quyển sách này là best-seller ở phương Tây, đến cuối thế kỷ 19 bán được số lượng 250.000 ở Anh Mỹ, nhưng khi được Nakamura Masanao, một học giả Khổng giáo từng học bên Anh, dịch sang tiếng Nhật những năm đầu của thời Minh Trị thì quyển sách bán đến một triệu bản! (Nakamura cũng là người dịch quyển Bàn về Tự do) Một con số thật "khủng" nếu ta biết rằng thời đó dân số Nhật Bản chỉ khoảng trên 30 triệu thôi. Self-Help là một trong ba quyển sách được gọi là "Bộ kinh thánh Minh Trị" có sức hút mãnh liệt đối với người Nhật, nhất là giới trẻ, trong giai đoạn đất nước đổi mới của Nhật Bản. Cuốn sách Tự lo thể hiện tinh thần độc lập tự chủ của các cá nhân, và từ đó làm cho quốc gia độc lập và tự chủ.Cuốn sách mượn lời của J.S. Mill ngay trang đầu: "Giá trị của nhà nước, xét lâu dài, là giá trị của các cá nhân cấu thành." Đó là tín hiệu mà quyển sách muốn truyền đạt: Muốn có một đất nước mạnh,độc lập, phải có những cá nhân mạnh và độc lập, thông qua tự rèn luyện, tự lo. Đó là điều kiện tiên quyết.
Nói chung vào thời mở cửa Minh Trị Duy Tân, dân tộc Nhật lên cơn sốt đọc sách nước ngoài để biết phương Tây đã làm gì và đang làm gì mà "nước giàu quân mạnh"như thế.Họ muốn biết và muốn học, để xây dựng đất nước hùng mạnh như các cường quốc phương Tây. Chỉ có được một nền văn hoá lớn, một xã hội phú cường, khi nào mọi người được học như nhau, khi mọi người có quyền ao ước và có điều kiện vươn lên khỏi chức phận cũ của mình. Tinh thần này, ethos, được diễn tả mạnh mẽ trong tác phẩm "Khuyến học", Gakumon no susume, của nhà khai minh Fukuzawa Yukichi (1835-1901): "Con người không sinh ra cao quý hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo khó. Chính những ai lao động siêng năng ở những công việc tìm tòi của họ, và học nhiều, sẽ trở thành cao quý và giàu có, trong khi những ai biếng nhác sẽ trở thành nghèo khó, thấp hèn."
Hai sự kiện sau đây ở thế kỷ 20 minh hoạ thêm óc tò mò học hỏi đặc biệt của người Nhật, điều mà các nhà truyền giáo phương Tây đã ghi nhận khi tiếp xúc với những dân tộc này, so sánh với các dân Trung Hoa hay Hàn Quốc mà họ biết trướcđó. Năm 1922 khi Einstein thực hiện lời mời sang thăm và diễn thuyết khoa học tại Nhật thì nước Nhật vừa có ngay một tuyển tập Einstein gồm bốn quyển. Lúc đó không đâu ở châu Âu hay ở Mỹ có tuyển tập này. Tương tự, ba năm trước đó, 1919, Nhật Bản cũng là nước đầu tiên xuất bản tuyển tập Các Mác, Ăng-Ghen. Cũng không đâu trên thếgiới, kể cả Nga, Đức là những nơi có phong trào xã hội chủ nghĩa mạnh nhất thế giới có tuyển tập này. Người Nhật quả muốn biết hết những nghĩ gì thế giới trước đó.
Công ty ra đời đầu tiên thời Minh Trị Duy Tân kinh doanh gì? Được sách sử ghi lại, đó là công ty nhập khẩu và kinh doanh sách Maruzencủa Hayashi Yuteki. Năm 1869 ông Hayashi Yuteki mở công ty đầu tiên tại Yokohama có tên Maruya, và năm sau mở thêm cửa hàng thứ hai tại Nihonbashi, khu phố cổ trung tâm sầm uất và thời trang nhất của Tokyo lúc bấy giờ! Năm 1880 Hayashi chuyển doanh nghiệp chính thức thành công ty TNHH Maruzen. Sách là mặt hàng đi đầu trong "cuộc chấn hưng dân khí".Phần lớn các học giả và nhà văn đều là khách hàng của Maruzen, trong đó có hai nhà văn lớn Akutagawa Ryunosuke và Natsume S#seki. Hayashi Yuteki vốn là một thầy thuốc hành nghề rồi sau đó trở thành học trò của nhà khai minh Fukuzawa Yukichi. Ngoài các hiệu sách, Maruzen còn xuất bản một nguyệt san cho giới văn sĩ, học thuật có tên "Ánh sáng của Khoa học", Gakut#. Một thời gian dài Maruzen là cửa sổ duy nhất nhìn ra phương Tây. [Công ty sách này ngày nay vẫn còn tồn tại, hoạt động rộng rãi, có doanh số năm 1996 hơn một tỉ Euro với 2.100 nhân viên. Khách hàng của họ là nhiều đại học, cơ quan chính quyền và viện nghiên cứu.]
Chúng ta tự hỏi vì đâu mà người Nhật lại có cái đam mê đọc sách cuồng nhiệt và sự đánh giá cao sách vở như thế? Có phải dân tộc này chỉ mê đọc sách thời Minh Trị khi bừng tỉnh sau 'cơn ngủ đông' mấy trăm năm trước đó không? Dân tộc Trung Hoa cũng từng ngủ đông dài như thế,và một số dân tộc khác cùng dòng văn hoá Khổng Mạnh, nhưng tại sao không có cái đam mê đọc sách như dân Nhật?
Một truyền thống lâu đời
Thực ra người Nhật đã có truyền thống đọc sách khủng lâu đời, ít ra từ thời Tokugawa 1600-1686. Trong thời đầu của Tokugawa Ieyasu, người thống nhất đất nước và lập nên triều đại Tokugawa hoà bình 265 năm lâu dài nhất lịch sử, thì chuyện một samurai có thể diễn đạt được ý tưởng của mình một cách mạch lạc trên giấy trắng mực đen là điều hi hữu, và tình trạng mù chữ là bình thường. Văn hoá Nhật Bản trước 1600 là văn hoá võ sĩ. Nhưng vào cuối thế kỷ 18, có thể nói một samurai mù chữ là một điều hụt hẫng đáng buồn, và tới giữa thế kỷ 19, tình hình lại khác nhau một trời một vực.
Trong thời Genroku(1688-1704), được xem là thời vàng son của Tokugawa với kinh tế ổn định, nghệ thuật và văn chương phát triển, Nhật Bản đã có một hệ thống xuất bản sách hiện đại đáng ngạc nhiên, đặc trưng bởi sự hiện hữu của nhiều nhà xuất bản lớn, nhiều nhà minh hoạ sách có tiếng và nhiều nhà văn tên tuổi. Sách thường được xuất bản với số lượng đến hơn 10.000 bản! Đây là một con số "khủng" thời đó; Nhật Bản lúc đó chỉ có chừng 20 triệu người, vì thời Minh Trị dân số Nhật Bản khoảng 30 triệu. Năm 1692 Nhật Bản cũng đã từng có những bộ danh mục hàng chục tập về các sách in dành cho công chúng sử dụng. (Hiện nay VN chưa có được những bộ danh mục như thế tại các nhà sách).
Con số phát hành 10.000 bản là rất đáng ghen tị cho những nhà xuất bản và tác giả Việt Nam hiện nay, đất nước với gần 90 triệu dân. Trong gần mười năm qua từ khi loại sách khai trí bắt đầu xuất hiện, có mấy tác giả nào có số ấn bản tương đương như thế? Cho nên số ấn bản 10.000 của người Nhật thời Tokugawa cách đây 300 năm quả là con số "khủng"! [Việt Nam lúc bấy giờ đang trong giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh, không hiểu giáo dục và văn hoá đọc sách ra sao.]
Thương mại sách ở Nhật bắt đầu phát triển mạnh từ đầu thế kỷ17. Giới đọc sách truyền thống như quý tộc, tu sĩ và thượng lưu trong thành phố được mở rộng sang các giới đại chúng. Mặc dù số lượng phát hành cao, nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu đọc sách của các tầng lớp dân chúng, văn hoá đọc sách thuê, ra đời trong thời Kan'ei (1624-44), trở nên phổ biến,đặc biệt tại các thành phốlớn như Edo, Kyoto và Nagoya. Các cửa hàng cho thuê sách, kashihonya, đóng vai trò quan trọng ở đây. Cuối thếkỷ18 các cửa hàng cho thuê sách có mặt khắp nơi ở Edo (tức Tokyo) và các tỉnh. Khách hàng được phục vụ bởi những người đi rong mang thùng sách trên lưng. Sách vở có thể đi đến tận các hải đảo xa xôi. Edo có 650 cửa hàng cho mượn sách năm 1808, nhưng đến 1832 đã có tới 800. Edo có dân số khoảng hơn triệu, và tỉ lệ biết chữ lên đến 70%. Một cửa hàng cho mượn sách ở Nagoya, tên Dais# của S#hachi, như lịch sử còn ghi, được thành lập năm 1767 và hoạt động 132 năm liền, đến khi chấm dứt hoạt động có một danh mục đến 26.768 quyển sách cho mượn.
Nhật Bản thế kỷ18 có những thành phố lớn phát triển với dân số tập trung cao như châu Âu. Edo có trên một triệu dân, nhất thế giới, hơn cả Paris. Các thành phố khác như Osaka có con số non một triệu. Nhật Bản có văn hoá thành thị, có cả văn hoá salon (zashiki), đời sống sung túc rõ nét như ởchâu Âu thời Trung cổ. Và đó cũng là điểm hấp dẫn đối với giới thương nhân nước ngoài khi họ kêu gọi Nhật Bản mở cửa. [Việt Nam lúc đó chưa được như thế về mặt phát triển kinh tế.]
Chúng ta hỏi: Từ đâu người Nhật có sự đam mê đọc sách như thế? Động lực nào?

Nguồn gốc đọc sách: văn đi trước võ
Sự học tại Nhật Bản trước 1600 là độc quyền của giới quý tộc và tăng lữ, nhưng đến thời Tokugawa trở thành công việc của cả nước. Năm 1615 tướng quân Tokugawa Ieyasu, sau khi đã bình định được gần ba trăm phiên trấn (han), thiết lập nên một thể chế chính trị gần như liên bang, phát đi mệnh lệnh như một 'big bang' cho các đại danh, daimy#,chủ phiên trấn và các võ sĩ, samurai: Điều 1 của mệnh lệnh nói: "bun bên tay trái, bu bên tay phải".Bun là văn, sự học, là cây bút, trong khi bu là võ, nghệ thuật chiến tranh, từ đó chữ bushi là võ sĩ, bushido là võ sĩ đạo. Như thế Điều 1 nói "quyển sách bên tay trái, thanh gươm bên tay phải",và văn đi trước võ, đểcó thểtrịnước lâu bền. Các võ sĩ Nhật dần dần trở thành giai cấp cầm quyền có học.Ở Nhật Bản, cầm quyền là việc của giai cấp của samurai, cha truyền con nối, không phải việc của các Khổng nho như ởTrung Hoa hay Việt Nam, Triều Tiên. Khổng nho cao lắm chỉ được làm tư vấn với đồng lương thấp. Nhật Bản cũng có xếp hạng"sĩ, nông, công, thương" (shi, n#, k#, sh#) dướiảnh hưởng của Khống giáo Trung Hoa, nhưng ở đây sĩ không phải là nho sĩ, mà là võ sĩ.
Các daimy# giờ đây phải học văn hoá, các loại khoa học và nghệ thuật quản lý đất nước.Một daimy# có học phải đọc sách hằng ngày. Để phục vụ cho việc học tập của daimy#, và các gia thần, thư viện được thành lập, sách vở được sưu tầm một cách qui mô, và trở thành biểu tượng cho tri thức. Thư viện bao gồm các loại sách về lịch sửNhật Bản và Trung Hoa, các sách về Khổng giáo, Phật giáo và Thần giáo; sách về nghệ thuật quân sự, chiến lược quân sự, địa lý, thiên văn, kinh tế, toán học, y khoa và vô số sách về văn chương cổ điển. Bản thân tướng quân Ieyasu từng lập thư viện cho mình. Nhật Bản mỗi thời đều có những thư viện nổi tiếng, nhưng vào thời Tokugawa, Nhật Bản có nhiều thư viện nhất chưa bao giờ thấy trước đó. Fukuzawa Yukichi (1835-1901) đã ghi lại trong "Tây dương sự tình" sự quan sát đặc biệt của ông về các thư viện phương Tây khi ông có dịp đi tham quan:
Trong những thành phố lớn của phương Tây đều có các sưu tập sách được gọi là "thư viện", ở đó tất cả được sưu tầm, từ sách cho nhu cầu hàng ngày đến những loại sách hiếm, và sách trong nước cũng như từ nước ngoài. Người dân đến và có thể đọc quyển sách mình muốn, dù không phải là mỗi ngày. Thư viện Anh có 800.000 quyển, của St. Peterburg 900.000, và của Paris 1,5 triệu. Người Pháp nói rằng, nếu đem tất cả sách xếp nối đuôi nhau, chúng ta sẽ có một chiều dài 7 dặm.

Phát triển giáo dục
Văn hoá đọc sách gắn liền với giáo dục. Tokugawa là thời kỳ của sự bùng nổ giáo dục, hệ thống trường học, phục vụ cho nhiều đối tượng, nhiều đẳng cấp, trường trung ương của shogun, trường phiên của các daimy#, trường tư, cho dân thường và trường hỗn hợp cho cảs amurai và dân thường. Vài con số dướiđ ây sẽ làm chúng ta thêm ngạc nhiên để thấy mối tương quan giữa văn hoá đọc và giáo dục.
Ngoài những trường chính thống dành cho giai cấp samurai của Mạc phủ,như "Hàn lâm Khổng giáo", Sh#heik#, thành lập năm 1630, và trường của các phiên, còn có các loại trường như trường terakoyacho thường dân; trường g#gaku dành cho cả con em samurai lẫn thường dân học chung, được chính thức hỗ trợ từ nhà nước, báo trước loại giáo dục hiện đại phi đẳng cấp sẽ ra đời thời MinhTrị. Ngoài ra có loại trường tư thục,shijuku, privat academies, với khoảng 1.500 trường, từq ui mô nhỏ vài ba chục đến qui mô lớn cả ngàn sinh viên, cạnh tranh với các trường trung ương hay trường phiên, dành cho cảsamurai và thường dân mọi tầng lớp.
Tại phiên Ch#sh#, một trong những phiên quan trọng trong việc lật đổ Mạc phủ để phục hồi thiên hoàng, nhiều samurai nổi loạn và trở thành lãnh đạo của chính phủ Minh Trị đã từng là học trò của nhà yêu nước Yoshida Sh#in (1830-1859) tại trường tư thục do ông thành lập. Shijuku thường phục vụ cho giáo dục cao cấp (advancededucation), đi vào nghiên cứu, là trường của những người muốn tiến thân vào học thuật. Đó là loại trường "vườn ươm nhân tài", bất kể từ đâu đến, samurai hay thương gia, thầy tu, tạo nguồn nhân lực quốc gia, jinzai (human resource), điều cũng được các giới chính quyền trung ương và địa phương ủng hộ. Theo tinh thần của jinzai, việc tuyển mộ nhân sự được dựa trên cơ sở tài năng hơn là nguồn gốc thân thế, và tài năng có thể đi từ phiên này sang phiên khác sống. Ngoài ra còn các trường dạy nghề và trường tôn giáo.
Năm 1868 khi Nhật Bản Minh Trị bắt đầu cuộc duy tân, cả nước đã có 17.000 trường đủ mọi loại! Đây cũng là một con số 'khủng' nữa. Hàng triệu người đã được học hành. [Việt Nam có được bao nhiêu trường học và học sinh lúc đó? Nam Kỳ lúc đó vừa trở thành thuộcđịa Pháp.] Có một ước tính theo đó cuối thời Tokugawa Nhật Bản có khoảng trên 40% con trai và 10% con gái nhận được giáo dục ngoài gia đình. Nhà nước không sợ sự phát triển giáo dục trong nhân dân, và dân chúng cũng đồng tình để cải thiện vị trí xã hội của mình. Phát triển đất nước cần những người có học."Việc đầu tiên cần thiết cho sự trị vì một nhà nước là năng lực con người. Mà năng lực con người thì đến từ sự học"như học giả Khống giáo Dazai Jun(1686-1747) viết.
Qui mô của trường Nhật cũng không kém phần ngạc nhiên. Trường Sh#heik# được xây dựng lại năm 1799 thực tế không phải là một ngôi trường, mà là một campusto lớn, nhiều dãy nhà ngang dọc, nhiều đường phố trong đó, với một đền thờ Khổng tử lớn tại trung tâm, nó là một cái làng học thuật và đào tạo đúng hơn là một cái trường đơn giản theo quan niệm của chúng ta. Trường Nisshinkantuy có thể nhỏ hơn nhưng cũng rất lớn. Chúng ta biết rằng tại Hoa Kỳ, các đại học dạng campus hình thành chủ yếu từ Luật giao đất Morrill năm 1862 trước khi cuộc nội chiến chấm dứt. Phải chăng, xét về qui mô, các trường của Nhật Bản thời Tokugawa đã đi trước các đại học campus của Mỹ gần cả trăm năm?
Nước Nhật bước vào hiện đại hoá không phải từ tro tàn của chế độ cũ, mà ngược lại, được xây dựng trên một nền móng văn hoá đã phát triển cao, đa dạng về nội dung học, và vững chắc. Năm 1872 (cũng là năm sinh của cụ Phan Châu Trinh), tức chỉ bốn năm sau khi vua Minh Trị được phục hồi, một chế độ giáo dục cưỡng bách toàn dân được thực hiện trên khắp nước Nhật, một kỳ công. Điều này sẽkhó có thể được nếu Nhật Bản Tokugawa không có gì cả. Năm 1900 Nhật Bản có tỉ lệ người biết chữcao hơn tỉ lệ của Anh. Đó là một môi trường văn hoá tốt và thiết yếu cho sự phát triển mạnh của khoa học và kỹ thuật.
Nếuđầu thời kỳ Tokugawa lưỡi gươm là quan trọng, thì vào cuối thời Tokugawa thì quyển sách là quan trọng hơn.
Trước áp lực của nguy cơ nước ngoài sự học cổ điển dần dần được hiện đại hoá bằng các môn học phương Tây. Các môn tri thức quân sự, luyện kim, vẽ bản đồ,y khoa, hoá học…, cũng như các môn học về các thể chế chính trị,kinh tế các quốc gia phương Tây có sức hút mạnh mẽ. Các daimy# biết nhìn xa gửi sinh viên tài năng đi học tại Nagasaki hay tại những trường Lan học tại Edo và Osaka. Và trong những năm 1850, 1860 họ thành lập các trung tâm Tây học tại các phiên của họ. Các nhà lãnh đạo của Minh Trị Duy Tân như Saig# của phiên Satsuma, Kido, It# và Inoue của Ch#sh#, Soejima và Okuma của Saga, Got#, Sakamoto và Sasaki của Tosa, Yuri của Fuki, Mutsu và Katsu của Mạc phủ, tất cả đều đã một lần học tại Nagasaki, trung tâm Lan học hiện đại của cả đất nước.
Sự phát triển giáo dục thời Tokugawa gắn liền với sự phát triển văn hoá Edo. Edo là thời kỳ của nghệ thuật và học thuật. Tokugawa chọn con đường đóng kín không phải để suy tàn, mà ngược lại, để phát triển bản sắc Nhật Bản không bị phá rầy, đưa sức sống của dân tộc lên đỉnh cao văn hoá và nghệ thuật, vun xới đạo đức và bản sắc. Đó là thời kỳ của sự tự tôi luyện, sự quyết tâm tự khẳng định mình, biến đổi miếng đất hoang sơ thành một vườn hoa sặc sỡ, phát triển các hình thái nghệ thuật lên cao nhất, để bản sắc Nhật Bản trở thành nền tảng không lung lay được trong thời mở cửa xáo trộn sau, để tài năng Nhật Bản được tinh luyện làm niềm tin của dân tộc. Khi mở cửa, nghệ thuật Nhật Bản đã chinh phục được các quốc gia phương Tây và quốc gia được nể phục.
Tấm bình phong sơn mài hoa Iris của Ogata K#rin (1658-1716), bậc thầy tiên phong về hội hoạ thời Edo, là thời đại hưng thịnh của nghệ thuật, để lại dấu ấn mãi mãi trong lịch sử Nhật Bản. Otaga K#rin là tấm gương lớn của những người trường phái ấn tượng đầu tiên của Pháp. Các cuộc triển lãm tranh nghệ thuật của nghệ sĩ Nhật Bản nửa cuối thế kỷ 19 trong thời mở cửa tại châu Âu cũng như tại Hoa Kỳ đã mang đến cho Nhật Bản một sự công nhận lớn trong lãnh vực nghệ thuật. Không phải chỉcó phương Tây chiếm lĩnh Nhật Bản qua các hiệp định thương mại, mà Nhật Bản đã chiếm lĩnh sân khấu nghệ thuật phương Tây qua nghệ thuật. Van Gogh cũng chịu ảnh hưởng của hội hoạ Nhật Bản. Nhiều người Mỹ thừa nhận tính ưu việt của nghệ thuật Nhật Bản. Một làn sóng lớn, "tsunami", du lịch từ phương Tây, nhất là từ Hoa Kỳ đã đổ sang Nhật Bản vì sự ngưỡng mộ dân tộc đặc biệt này. Người Nhật cảm thấy tự tin khi bước vào sân chơi của cộng đồng các cường quốc.
Lan học, cuộc dịch thuật vĩ đại
Còn một sự kiện 'khủng' khác cần được nói lên ở đây. Đó là cuộc dịch thuật vĩ đại hai thế kỷ của giới trí thức Nhật Bản trong thời Tokugawa tự đóng cửa. Sáu năm sau khi Copernicus qua đời (1543) và tác phẩm cách mạng Về chuyển động quay của các thiên thể xuất bản, Nhật Bản tiếp xúc với những người phương Tây đầu tiên. Nhưng năm mươi năm sau, Nhật Bản, như chúng ta biết, chọn con đường đóng kín cửa, "toả quốc", sokoku, từ 1640 (Việt Nam từ 1630), khi thấy sự phát triển của Kitô giáo là nguy hiểm cho tinh thần dân tộc và cho quyền lực. Nhật Bản chỉ chừa một cửa thông thương duy nhất với Hà Lan tại Dejima, Nagasaki. Sự đóng kín này kéo dài cho đến hết thời Tokugawa năm 1868. Vậy mà trong điều kiện đó, đây là điều Việt Nam không có, trí thức Nhật Bản đã làm một cuộc dịch thuật vĩ đại sách vở phương Tây. Tuy không quyển sách nào thoát khỏi bàn tay kiểm duyệt nghiêm ngặt của Mạc phủ, tuy giới học giả phải làm việc trong điều kiện khó khăn, đôi khi phải trả giá bằng tính mệnh, nhưng họ đã làm nên một cuộc dịch thuật vĩ đạ itừ cái được gọi là Lan học, rangaku, Dutch learning ("Lan" là gọi tắt của Hà Lan), bắt cầu cho khai trí, khoa học, kỹthuật để Minh Trị Duy Tân bước tới mạnh mẽ.
Trí thức Nhật, nhất là giới bác sĩ, đặc biệt chú ý đến khoa học kỹ thuật từ châu Âu qua các tác phẩm dịch từ tiếng Hà Lan. Họ nhìn thấy trong đó một nền văn minh mới xuất hiện, và ý thức rằng, nếu một ngàn năm trước Nhật Bản đã từng gửi học giả và tăng lữ sang Trung Hoa để học văn hoá, thì nay, họ cũng đang đứng trước một nền văn minh mới đồ sộ cần phải học hỏi, và họ phải tựhọc trong sự dè chừng của Mạc phủ. Qua Lan học- hay Tây học qua tiếng Hà Lan - người Nhật học hầu như tất cả các môn khoa học và công nghệ phương Tây: y khoa, sinh học, thiên văn, toán học, vật lý, hoá học, điện, cơ học, máy bơm, đồng hồ, máy hơi nước, kính thiên văn, kính hiển vi, luyện kim, đúc súng, đóng tàu…Họ thường xuyên theo dõi sự tiến bộ khoa học công nghệ châu Âu. Các thương nhân Hà Lan ngay từ đầu được Mạc phủ yêu cầu hàng năm viết báo cáo (f#setsugaki) cho chính phủ tướng quân về tình hình thế giới, và về cuộc cách mạng công nghệ và khoa học ở châu Âu.
Từ thế kỷ 18, tức khoảng một thế kỷ sau tác phẩm Principia của Newton, các học giả Lan học đã nắm bắt được vật lý Newton, họ đã dịch được các khái niệm như "trọng lực" (j#ryoku), "lực hút" (inryoku), "lực ly tâm" (enshinryoku), "khối tâm" (j#ten, centre of mass) vẫn còn được sử dụng ngày nay. Các học giả Lan học đã hiểu các hiện tượng điện, tĩnh điện, hiểu nguyên lý ắc-quy của Volta đầu thế kỷ 19, chỉ mấy năm sau khi Volta phát minh ở châu Âu. Họ hiểu hoá học của Lavoisier, có thể chế tạo kính thiên văn không lâu sau Hans Lippershey và Galilei đầu thế kỷ 17; chế tạo đồng hồ, máy bơm, súng hơi, chế tạo những con búp bê cơ khí tự động phục vụ trà. Đặc biệt máy hơi nước được Nhật Bản chế tạo lần đầu tiên năm 1853. Người Nhật đã đóng được tàu chiến chạy hơi nước chỉ hai năm sau cuộc gặp gỡ lịch sử với Commodore Perry 1853. Tất cả cũng chỉ dựa trên bản vẽ. Một quan chức Hà Lan bình luận rằng "Tuy có những sự không hoàn chỉnh về chi tiết, nhưng tôi phải ngã mũ trước dân tộc thiên tài có khả năng chế tạo những thứ này mà họ không hề thấy một chiếc máy thực ngoài đời, chỉ dựa trên các bản vẽ đơn thuần."
Cuộc dịch thuật diễn ra trong hai thế kỷ với hàng ngàn cuốn sách được xuất bản và truyền bá trong giới học thuật, làm cho người ta nhớ đến cuộc dịch thuật vĩ đại văn minh Hy Lạp cổ đại và Ả rập vào châu Âu hai thế kỷ 11 và 12 đúng lúc đại học châu Âu đang hình thành, làm cho đại học và khoa học châu Âu phát triển mạnh mẽ. Chỉ có khác một điều: trong khi cuộc dịch thuật ở châu Âu được phần lớn các học giả Ả rập thực hiện thì ở Nhật Bản cuộc dịch thuật được do chính người Nhật thực hiện, những người được đào tạo từ một nền văn hoá rất khác. Phương Đông chưa có cuộc dịch thuật nào như cuộc dịch thuật Nhật Bản phản ảnh trung thực nền khoa học kỹ thuật phương Tây. (Cuộc dịch thuật ở Trung Hoa bởi các nhà truyền giáo bóp méo một phần khoa học vì mục tiêu truyền giáo, và gặp sức ỳ mãnh liệt của sự tự mãn văn hoá Trung Hoa). Đây là một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử giữa Tây và Đông. Hai trăm năm dịch thuật ở Nhật Bản Tokugawa cũng là thời gian tại châu Âu diễn ra các cuộc cách mạng khoa học, công nghiệp dữ dội, tạo nên sự mất cân bằng lực lượng nghiêm trọng trên thếgiới dẫn tới thay đổi lớn lao chưa từng có trong lịch sử loài người. Người Nhật đã biết tiếp cận các cuộc cách mạng đó từ xa để chuẩn bị mình.
Người Nhật không thể yêu nước trong sự mê muội, vô minh, lại càng không yêu nước bằng những nội dung khuôn sáo không thực chất."Chúng ta cảm thấy xấu hổ làm sao khi khám phá ra sự ngu dốt của mình" với tư cách là người phục vụ đại danh và đất nước, như một lời tự thú của Siguta Gempaku (1733-1817), một bác sĩ tên tuổi và là người đã tạo cú hích quan trọng cho Lan học cuối thế kỷ 18, sau khi ông chứng kiến rằng cấu trúc của cơ thể con người không giống như sách vở của Trung Hoa hay Nhật Bản bấy lâu nay, mà giống chính xác các bản vẽ cơ thể học của một quyển sách từ phương Tây (Tafel Anatomia), sau đó được Gempaku và các đồng nghiệp dịch ngay sang tiếng Nhật, tạo cú hích mạnh mẽ cho phong trào Lan học.
Kết luận
Nói tóm lại, Nhật Bản là một dân tộc có óc tò mò không bao giờ nguôi, tinh thần khao khát học hỏi cái mới mãnh liệt không bao giờ tắt, và khả năng hiểu biết nhanh chóng, để hoàn thiện mình, để bảo vệ đất nước,để "kiểm soát những người man di bằng tri thức của họ", và vì thế họ đọc sách dữ dội, và đã thành công dữ dội.

Thế kỷ thứ bảy và tám họ đã từng vượt biển trong hiểm nguy để học văn hoá Trung Hoa đem về xây dựng nền tảng văn hoá riêng của họ. Rồi một ngàn năm sau, cũng trong khó khăn và nguy hiểm, giới trí thức đã tiến hành cuộc dịch thuật văn hoá phương Tây hai thế kỷ liền, và từ 1868 trở đi một cách bùng nổ, để có thể nhanh chóng hiện đại hoá đất nước với mục tiêu trở thành ngang bằng với các cường quốc phương Tây. Đó là hai sựkiện trọng đại nhất trong lịch sử văn hoá nước Nhật. Và họ đã thành công. Họ bỏ lại Trung Hoa từng là trung tâm văn hoá đối với họ,để rồi chính Trung Hoa sau đó phải học lại họ. Nhật Bản đã từng trở thành trung tâm văn hoá mới và niềm hy vọng ở phương Đông, thay thế cho cái trung tâm Trung Hoa cũ đang rệu rã.

Nhật Bản là tấm gương "tổng hợp văn hoá Đông Tây" của thế giới mà không mất đi bản sắc sâu đậm của mình. Họ là một tấm gương tuyệt vời của sự tự-khai trí vươn lên. Họ đóng cửa mà không hư hỏng hay hỗn độn. Ngược lại, họ đóng cửa để phát triển các tố chất dân tộc thành tinh hoa, làm bước chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp vững chắc, không chao đảo khi mở cửa ồ ạt thời Minh Trị.Họ là một dân tộc văn hoá đáng kính phục.
Charles Darwin nói đâu đó trong lá thư gửi cho một người bạn, rằng đối với ông Nhật Bản là một kỳ quan trong những những kỳ quan của thế giới, nếu không muốn nói là kỳ quan lớn nhất.
Chúng ta người Việt Nam nên học văn hoá đọc sách độc đáo của người Nhật, óc tò mò của họ, học để sáng tạo cho đất nước. Nếu chỉ học với mục đích có được một nghề để sống, điều đó quý cho bản thân, gia đình, nhưng dễ dẫn đến sự tự mãn làm cho người ta không đọc sách nữa khi đã đạt được mục đích. Với tinh thần đó, Việt Nam chỉ có cá nhân chứ không có quốc gia. Chỉ có đọc sách với tinh thần người Nhật là muốn hiểu biết thế giới đã, đang nghĩ gì, làm gì để tái tạo tinh hoa thế giới và sáng tạo cái mới làm giàu đất nước Việt Nam, điều đó mới giúp cho chúng ta đọc sách mãi mãi không thôi, đọc cuồng nhiệt trong thế giới tri thức vô tận. Và chỉ trên cơ sở đó, văn hoá đọc mới có thể thăng hoa. Không phải chỉ vài ngàn, mà hàng triệu các bản sách hay mới có thể được đọc giả hâm mộ và háo hức đón nhận. Và cũng chỉ trên cơ sở đó, nhân dân mới nhanh chóng ấm no, đất nước mới phú cường, giang san mới bền vững.
Mùa Hội sách Thành phố, tháng Ba, 2012
Nguyễn Xuân Xanh

1. Bài viết này là sự rút ngắn từ một bài nghiên cứu chi tiết hơn có cùng tựa đề của tác giả vào mùa Hội sách TP 2012. Một bài tóm tắt 850 chữ được báo Tuổi Trẻ đăng dưới tiêu đề "Không thể yêu nước trong sự vô minh"
(http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/483903/"Khong-the-yeu-nuoc-trong-su-vo-minh".html)
2. Tác giả cám ơn TS Trương Văn Tân (Úc) đã cho nhiều ý kiến quý báu về lịch sử và thuật ngữ Hán-Nhật.


Nguồn: chungta.com

17-03-2014

Ai là Vi Toàn Nghĩa - trò chuyện với Kĩ sư Vi Toàn Nghĩa về công nghệ trồng rau mầm


Chương trình Ai là Ai do kênh VTC2 thực hiện, với cuộc trò chuyện với Kĩ sư Vi Toàn Nghĩa về công nghệ trồng rau mầm do ông sáng chế. 
Dưới đây là video của chương trình Ai là Ai: 
Phần I 


Phần II 

Phần III 



Địa chỉ tư vấn:  Kỹ sư Vi Toàn Nghĩa - Điện thoại: 0982269462.

P/s: Gửi Bác Nghĩa địa chỉ nhà cháu.
Hồ Xuân Kiên, Khối 1, Thị trấn Mường Ảng, Huyện Mường Ảng, Tỉnh Điện Biên
ĐT: 01697719211

11-03-2014

Về cái nghèo của những con người


Những người có công việc ổn định thì vẫn ham những công việc trồng rau cỏ, chăn nuôi... tận dụng mọi thứ có thể, từ những cái nhỏ như mảnh đất để trồng cây, rau... đến những đồng tiền kiếm được. Vậy mà có nhiều người học ít, lại cứ thích kiểu làm thuê ngày đôi trăm, lấy tiền ngay để tiêu sài, rồi than nghèo, kể khổ. Trong khi đó, nhà có đất rộng, ao sâu thì bỏ trống hoặc bán đi để lấy tiền mua sắm các kiểu... mà những người ở vế sau trong xã hội thì nhiều nhiều lắm... quê ta nghèo vì đâu...??? 
Những ngày này, Điện Biên đang rậm rịch tổ chức lễ hội Hoa Ban (hay tên gọi là cái gì đấy). Từ bao năm nay, quê mình vẫn nghèo, lấy đâu ra lễ hội, lấy đâu ra chuyện cúng bái... mà bây giờ... 
Đến ngay như đền Hoàng Công Chất, nơi duy nhất được coi là nơi có ý nghĩa tâm linh của tỉnh. Vậy mà bây giờ có rất rất nhiều người đến xin quẻ, rồi bói toán, mà đền đâu phải nơi như vậy. Tôi dám chắc rằng, nếu Điện Biên có một ngôi chùa được xây dựng, không biết số người đi chùa sẽ nhiều như thế nào, nhất là các ngày rằm, mùng một, các ngày lễ. Ừ thì "Phú quý sinh lễ nghĩa", những người đến đây, phần nhiều là những người có tiền, quyền... Cần nhắc lại, đây cũng chỉ là một trong những thói xấu của người Việt, sự tùy tiện, bám theo đám đông, sự nhỏ nhặt trong suy nghĩ, thói a dua và xu nịnh....  ừ thì đến cái cây mới trồng trong đền được đôi năm,người ta cũng cắm hương vào được cơ mà... 
Tôi cũng chẳng bảo cái chủ nghĩa Mác - Lê nin nó đúng hay sai, cứ cho rằng nó không sai đi, nhưng cũng đừng mong nó đúng hoàn toàn. Chuyện đấy bàn sau. Bao nhiêu người là Đảng viên biết về Mác, Lê nin, Ăng-ghen (viết thế cho dễ đọc, lẽ ra viết là: Marx, Lenin, Engels). Bao nhiêu người là Đảng viên đã làm những điều Đảng viên không được làm, như đã ghi trong điều lệ đảng. 
Có lẽ là do định kiến chủ quan, nhưng tôi vẫn ủng hộ cho cái thể chế một đảng hiện giờ, nên nhớ, một đảng chứ không phải độc đảng. Hai cái ấy khác nhau xa lắm. Nhưng một đảng thì phải có sự thay đổi về bản chất của cái đảng đấy. Hay nói cách khác, là đa nguyên về chính trị. Giống như câu trích ở bài đăng trước của tôi, đại ý là không thể lôi kéo quân chúng xuống đường biểu tình để rồi không biết làm thế nào để vận hành một đất nước, vốn bị lật đổ bởi những cuộc xuống đường đó. Thế giới có nhiều ví dụ, Ai Cập, Ucraina,... Đó mới là vấn đề, lật đổ một chính phủ, rất dễ, nhưng tạo ra một chính phủ được lòng nhiều nhiều người dân thì không hề dễ. Có khi không bằng được chính phủ vừa sụp đổ kia đâu. 
Trở lại vấn đề như đoạn đầu đề cập: Dân ta nghèo vì đâu? Tôi nói luôn: nghèo là vì lười và ngu. Ai bảo không phải thì cứ thử chứng minh xem. Cuộc sống đã chứng minh, làm giàu thì không phải ai cũng làm được, nhưng để thoát nghèo thì ai cũng làm được. Nhưng vì sao nước ta nhiều người nghèo thế, tỉnh ta nhiều người nghèo thế? Vì sao? Lười và vô học (nói vô học có phần chính xác hơn là từ ngu). Ai cũng biết Việt Nam tiêu thụ quá nhiều bia, chúng ta biết vậy là do bia còn thống kê được, còn rượu thì sao, chẳng ai thống kê được mỗi năm người dân VN uống hết bao nhiêu rượu cả, rượu công nghiệp còn chẳng nắm được, huống chi rượu người dân tự chưng cất... Đi đâu cũng nhậu, làm gì cũng nhậu, nhậu triền miền... từ quan lớn đến thường dân... nhậu nhiều vậy thì còn sức đâu mà làm việc, rượu chèn ép hết các ý tưởng thoát nghèo rồi còn đâu. 
Vậy làm sao để thoát nghèo? 
tôi có 3 gợi ý nhỏ: 
 làm việc, làm việc và làm việc 
Dĩ nhiên, không chỉ bằng tay chân, mà còn cả đầu óc nữa. 

lật đổ một chính quyền không khó, làm chủ một chính quyền mới là vấn đề!

“Nếu bạn là nhà cách mạng, hãy cho chúng tôi thấy các năng lực của bạn. Khởi đầu một cái gì đó. Gia nhập một đảng. Xây dựng một thể chế. Giải quyết một vấn đề thực sự. Làm gì đó ngoài việc chạy vòng quanh từ cuộc biểu tình này cho tới cuộc diễu hành nọ. Đây không phải là công tác vận động quần chúng: công tác vận động quần chúng thực sự nghĩa là dẫn dắt quần chúng đi tới, chứ không phải chỉ kéo quần chúng ra đường biểu tình là xong”.


06-03-2014

Bài đọc được trên Viet-studies: Người Việt bị ngộ độc Toán và Thơ?

Phan Châu Thành

Đặt vấn đề: Cả dân tộc đã bị ngộ độc Toán và Thơ?
Với bài này, tôi muốn đặt một câu hỏi cho cả nền giáo dục văn hóa Việt Nam hiện đại vốn rất/quá chú trọng, thậm chí tôn thờ, hai điều: khả năng làm toán và làm thơ (chứ không phải viết văn và nghiên cứu khoa học hay kinh doanh). Có thể nói, cả dân tộc đã bị ngộ độc Toán và Thơ? Ngộ độc, là bởi vì mê và “giỏi” toán và thơ (tự phong) thế mà vẫn là dân tộc nghèo hèn…
Thơ …thẩn
Thơ thì, có lẽ không dân tộc nào “yêu thơ”, có nhiều “nhà thơ” có thẻ và không có thể hội viên, có nhiều câu lạc bộ thơ, nhiều “tác phẩm thơ” viết ra và in ra… (tính trên đầu người ) như dân Việt ta hiện nay. Trong tủ sách con con của tôi đã có ít nhất hơn chục tập thơ mà các tác giả “nhà thơ” tự in rồi tự tặng tôi (bắt tôi phải “tự” khen họ) gồm: nhạc phụ tôi, ba bậc đàn anh đã về hưu, một bà chị bạn, một cô bạn và một ông em họ xa, và bốn năm ông bạn quen sơ qua người khác trong công việc… Thú thực là có cuốn tôi chưa dám đọc bài nào! Giá mà thu nhập PPP của người Việt được tỷ tệ thuận với sản lượng thơ - ”Thơ Việt PP” (per person – trên đầu người) thì chắc dân ta giầu nhất thế giới?!
Toán…như khùng
Toán thì, không ai ngây ngất lên đồng tập thể với cái giải Fields cỏn con trị giá 10.000 USD của “thần đồng”, “thần tượng”, “thần-thánh toán” Ngô Bảo Châu như dân Việt ta gần đây thôi, làm tôi…ngán ngẩm. Rồi vì có giải Fields mà ông thủ ta bỏ ra trên 400 tỷ đồng mở Viện toán cao cấp nữa chứ (ông này nhất định rất kém toán)! Miếng mồi 10k USD NBC đã câu được con cá sộp (những 20 triệu USD thật) là Viện Toán “Cao cấp”, mà cả “cá” và “mồi” đều làm dân ta ngất ngây như bị tâm thần… Tình yêu toán đã bị ai đó lợi dụng phản lại các “nhà toán học” rồi, Việt Nam ơi!
Câu hỏi của tôi là: phải chăng Thơ và Toán (sự mê Thơ và sự mê Toán một cách ấu trĩ đến tâm thần và như bị thần kinh toàn xã hội) đã góp phần làm chúng ta (cả xã hội XHCN của ta) đã bị lên đồng tập thể liên miên mấy thế hệ nay, là những công cụ tự sướng, tạo nên những con người yếu đuối, xa thực tế, mơ hồ trên mây, bất thực tài và vô dụng? Bởi vì, cả toán và thơ, suy cho cùng, tuy không thể thiếu, đều rất ít tác dụng trong cuộc sống của dân ta hôm nay, chỉ làm dân tộc ta, đất nước ta khó có thể, thậm chí không thể thành công, vì đã mất quá nhiều thời gian và nhiệt huyết vào hai thứ đó?
Phải chăng mê thơ và toán quá đã là đặc điểm của các nước nghèo, các dân tộc không thành công? Ở ta hiện nay, Toán và Thơ sau nửa thế kỷ 20 được đam mê như khùng điên, đã phản tác dụng? Xã hội ta đang bị ngộ độc toán và thơ?
Tôi nhắc lại: tôi không đặt câu hỏi như thế với với văn và viết văn. Văn học, theo tôi, chúng ta lại quá kém và không đủ kiên trì, nghiêm túc, đam mê, chúng ta quá hời hợt (nói chung), chúng ta chỉ lợi dụng và lạm dụng văn cho chính trị, nên chúng ta lại càng … tắc, và văn học thì chết yểu.
Tại sao tôi nhận ra việc chú trọng Thơ và Toán quá là có vấn đề trầm trọng. Mở rộng ra, tại sao nước ta lại mê thơ và toán quá đà thế này? Làm sao để thoát mà không bỏ “nàng” Thơ và “chàng” Toán, để thành công, để thịnh vượng đây? Hay là dân tộc ta thà nghèo và thất bại nhưng cứ chỉ học giỏi toán và có nhiều nhà thơ nhất thế giới là hạnh phúc nhất thế giới rồi?
Cả nền giáo dục và toàn xã hội chỉ chú trọng mỗi Toán và Thơ
Từ 1945 đến nay dân Việt Nam ta đã phải sống trong chế độ cộng sản với chiến tranh và “đấu tranh cách mạng” nội bộ liên miên làm cuộc sống luôn vô cùng nghèo đói, thiếu thốn khó khăn, có khi như quay trở lại thời ăn hang ở hốc. Nhưng “mặt trận” chiến tranh và đấu tranh cách mạng được chú trọng bậc nhất của cộng sản là tẩy não nhân dân bằng tuyên truyền và giáo dục. Và một công cụ phổ biến hiệu quả mà cộng sản sử dụng là thơ. Bắt đầu từ các bài thơ chả ra thơ của “cha già dân tộc” (không kể tập Nhật ký trong tù “cha già” là thơ Tầu), rồi đến các bài thơ của các nhà tuyên truyền cộng sản từ Tố Hữu trở xuống… Thơ tuyên truyền giáo dục không cần hay, chỉ cần tải được “tinh thần và nhiệm vụ cách mạng” thật nhiều là sẽ được tâng lên mây xanh và các nhà “thơ” thì được trọng vọng… Thế là cả xã hội bị ép và rồi thi nhau làm thơ, đọc thơ, chép thơ, truyền thơ…, âu cũng là một cách để quên cái thực tại vô cùng khốn khó và che đậy sự khốn nạn của xã hội, của con người với nhau… Thơ “lên ngôi” – tức là bị chính trị hóa và trở thành công cụ chính trị của đảng, cho đến tận hôm nay vẫn thế.
Văn và các môn xã hội bị đè bẹp, bóp méo (chính trị hóa)
Đồng thời với việc thơ lên ngôi là văn bị đè bẹp và bị bóp méo – bị chính trị hóa - hoàn toàn. Tại sao thế, vì văn chính là tinh hoa của các môn khoa học xã hội. Biết viết văn là người ta biết suy luận, biết lập luận và có tư duy logic, độc lập, sáng tạo, có quan điểm riêng. Điều này vô cùng nguy hiểm cho chế độ cộng sản trong đó đảng nghĩ thay, tư duy thay, sáng tạo thay tất cả mọi người rồi. Cá nhân chỉ có việc ca ngợi đảng (bằng thơ văn), nghe theo và làm theo, không cần suy nghĩ, không được phép suy nghĩ.
Còn toán thì tại sao được “lên ngôi”? Là vì nền giáo dục trong khó nghèo và đói ăn nên chỉ có thể dạy và học “khan” thôi. Tức là chả có tài liệu, dụng cụ, và các điều kiện sơ đẳng để dạy và học các môn khoa học tự nhiên nào khác cho gần đúng yêu cầu, ngoài môn toán. Và cũng phải có môn nào đó để dân ngu học và nghiên cứu thực sự chứ, vì khoa học tự nhiên thì không có điều kiện và thầy bà, khoa học xã hội thì đảng bị “nhạy cảm” run… Thế là đảng hô hào và đun đẩy cho cả xã hội lao đầu vào học toán. Nào là thi học sinh giỏi, nào là các lớp chuyên, nào là thi toán quốc tế… dù đói rách thể nào đảng cũng vẫn tổ chức, vẫn cho tham gia. Lợi cả đôi đường cho đảng: mấy thằng giỏi (dạy và học) toán thì như trên mây nhưng lại rất dễ bảo, cả xã hội để sức vào toán sẽ không có thời gian và đầu óc cho những tư duy độc lập về các lĩnh vực khác, nhất là các vấn đề xã hội.
Nói tóm lại, khuyến khích cả xã hội dù đói nghèo vẫn chú trọng vào làm thơ và học toán có vẻ như là đã làm cho xã hội XHCN “trong sáng và cao đẹp hơn hẳn” (tôi cũng đã từng tin thế), thực chất chỉ là một chính sách ngu dân để dễ trị của đảng cộng sản. Thực tế đó vô cùng nguy hiểm, vì không ai gọi tên nó ra.
Tôi cũng từng vô cùng yêu toán và thơ
Là một sản phẩm “khá hoàn hảo” của chế độ, tôi cũng từng rất chú trọng và rất khá cả hai trò làm toán và làm thơ. Sau này các con tôi hỏi: “Hồi còn nhỏ bố học thế nào?”, tôi bao giờ cũng nói: “Bố học giỏi toán và làm thơ hay, nhưng bố chỉ nhớ hai cảm giác: sợ và đói... Sợ bị phê bình, bị kỷ luật, và đói vì luôn …đói”. “Sợ và đói thế thì làm sao bố học được?” - các con tôi thường tra vấn tiếp. “Bố học được và còn học giỏi, là nhờ bố trốn cái đói và nỗi sợ bằng cách vùi đầu vào toán và thơ. Hồi nhỏ, bố thường có thể ngồi làm toán và ngâm thơ cả buổi, một mình…”
Tôi đồ rằng, suốt mấy thế hệ qua trong sự giáo dục và lãnh đạo của đảng, đa số những người yêu toán và yêu thơ, đã đến với toán và thơ là do hoàn cảnh cả xã hội dồn đến thế - “thời thế thế thế thì phải thế”, không phải do có những tài năng bẩm sinh hay có chọn lựa theo đam mê cá nhân - cũng như tôi, chẳng có lựa chọn khác… Chỉ vì toán và thơ là hai cái có thể học tốn ít đầu tư vật chất nhất, dành cho người nghèo khó, và giúp quên cái nghèo khó, chiến tranh, quên sự đời… đó là tất cả những gì đảng cần từ những công dân XHCN. Toán và thơ đã trở thành một loại ma túy để chế độ cộng sản ru ngủ các con chiên ngoan đạo của mình, mà không ai biết.
Ai cũng sống trong nỗi sợ và phải vượt qua những nỗi sợ đó, nên đa số đều phải dùng ma túy toán và/hoặc thơ. Vì thế cả xã hội rất mê thơ và trọng toán, coi việc giỏi hai môn đó là căn bản nhất. Nhưng chúng ta lại gọi người giỏi toán hay thơ là những chàng ngố, chàng khờ mà không tin đúng là như vậy.
Tại sao tôi nhận ra mình bị ngộ độc?
Thời sinh viên du học, những năm đầu tôi học rất chủ quan vì mình khá giỏi toán. Chỉ từ năm thứ ba tôi mới nhận ra mình thua cả các sinh viên tây bình thường khác vì họ có một nền tảng kiến thức xã hội và khoa học kỹ thuật hơn hẳn mình. Tôi như một thằng lùn tưởng mình cao… Cây cà kheo toán và thơ của tôi bắt đầu gẫy.
Đến khi đi làm thì tôi mới nhận ra khả năng viết, nói, thể hiện, tranh luận, bảo vệ quan điểm thực sự của mình quá tệ - không hề giỏi như điểm văn của mình ngày xưa, còn khả năng làm thơ thì …hoàn toàn không dùng được, chỉ làm hỏng thêm khả năng viết và nói (lập luận) mà thôi. Là nhà quản lý, tôi đã tuyển dụng hàng trăm kỹ sư, cử nhân mới ra trường XHCN, và điểm kém nhất của họ luôn là: viết, lập luận, thể hiện và bảo vệ quan điểm riêng…
Tôi cũng quan sát các xã hội khác ngoài Việt Nam (mà tôi có khá nhiều điều kiện trong suốt nhiều năm qua), không ở đâu tôi thấy có sự “đam mê” toán và thơ kiểu người Việt, và đồng thời họ không đói nghèo và thiếu văn hóa như người Việt. Đến nỗi, tôi đã phải nảy ra câu tự hỏi, có sự liên hệ nhân quả nào giữa sự đam mê toán và thơ với sự nghèo đói của người Việt hôm nay?
Vai trò của Toán và Thơ
Điều gì làm nên đẳng cấp văn hóa và khoa học của một con người có học? Đó là khả năng tư duy độc lập và thể hiện, phát triển, bảo vệ quan điểm của mình. Giỏi toán và hay thơ không cho chúng ta khả năng đó – trừ khi chúng ta đi chuyên sâu về toán và làm thơ – số lượng mà xã hội cần rất rất ít.
Toán và thơ chỉ một phần giúp tôi, giúp dân ta vượt qua cuộc sống khốn khó thôi, nó không đủ để giúp người ta giỏi, càng không đủ để giúp ta thành công. Đó chỉ là “hét lên cho khỏi sợ ma” mà thôi.
Làm thơ để giúp ta nhắm mắt lại tưởng tượng và không nhìn thấy thực tại nữa, và vì thế nó giúp ta “chịu được” thực tại, vượt qua thực tại tàn khốc. Làm toán (bậc phổ thông) khiến trí óc ta bận rộn và quên đi cái đói, cái khổ…
Toán và Thơ, như ma túy, có thể giúp con người thoát thực tại, dù khốn khó thế nào, để thăng hoa trong giây lát, để có cảm giác thăng hoa, để biết mình còn sống, để kiểm tra và biết mình còn là người, thế thôi. Nhưng quá đề cao hay lạm dụng Toán và Thơ trên cấp độ quốc gia, dân tộc, thì như nhà nghèo chơi ma túy vậy - ma túy cao cấp thanh nhã nhất, và quốc gia ấy, dân tộc ấy sẽ chỉ sạt nghiệp mà thôi. Trên thế giới này có quốc gia hay dân tộc nào Thịnh vượng nhờ mọi người đều làm Toán và làm Thơ đâu?
Quan sát những người giỏi toán và giỏi thơ của ta - mà chúng ta đã có từ mấy thế hệ chỉ tập trung đào tạo làm toán và làm thơ, nhất là thế hệ 5x-6x chúng tôi, tôi thấy không ai sống được bằng toán và thơ cả. Một số bạn tôi từng đoạt huy chương Olympics Toán đó, bây giờ chỉ là những nhà giáo, công chức nghèo (nếu họ không làm quan cộng sản và tham nhũng). Ngay cả Ngô Bảo Châu nếu ở VN thì cũng không thể nói là đủ sống bằng toán! Thế hệ tôi còn có nhà thơ hàng đầu – “Thần đồng thơ” Trần Đăng Khoa - liệu gã này có đủ sống bằng thơ? Chắc chắn là không. Tôi đồ rằng các nhà thơ Việt cộng chỉ kiếm danh từ thơ, còn kiếm sống là từ văn (nếu giỏi thật) hay từ nghề tuyên truyền văn hóa cho đảng (bồi bút, loa thợ…).
Thế hệ tôi cũng có “nhà thơ” Dương Chí Dũng, với bài thơ “để đời” đọc trước tòa khi nhận án tử hình. Thơ ca thời cộng sản này đã bị méo mó và bốc mùi đến như vậy đấy! Họ chỉ sỉ nhục thơ.
Ngay nay, sống thành công hạnh phúc không phải sống bằng cách quên đi hay chạy trốn thực tại, tự lừa dối mình, như trong thời chiến tranh và nghèo đói nữa, mà là sống thành công hạnh phúc trong thực tại. Vậy vai trò của Toán và Thơ “đại trà” ở đâu trong đó nếu không phải tiếp tục là phương tiện ngu dân mị dân cho đảng?
Chắc chắn, nó không phải như bức tranh chúng ta đang nhìn thấy trong xã hội này về Toán và Thơ, về quan niệm của chúng ta về toán và thơ – như những gì xung quanh Ngô Báo Châu và các hội thơ, CLB thơ, các tác phẩm thơ tự in ngập tràn xã hội “văn hóa chất lượng cao” của chúng ta hôm nay.
Nói gì với thế hệ sau về Toán và Thơ?
Nhìn nhận vai trò của toán và thơ như trên, tôi đã kiên quyết không khuyến khích các con cháu mình và các bạn trẻ nói chung dành quá nhiều ưu tiên, thời gian, công sức cho cả toán và thơ. Tôi không khuyến khích các cháu làm thơ nữa, sợ chúng sẽ mê thơ rồi lạc đường như cha ông. Tôi cũng không ép chúng phải rèn luyện để giỏi toán nữa, vì tôi không muốn chúng …nghèo (cái đích mà hầu như chắc chắn những kẻ giỏi toán, giỏi thơ sẽ đến!). Nhưng tôi rất khuyến khích chúng làm văn, viết luận văn về những vấn đề cụ thể và với/bằng quan điểm riêng cụ thể của chúng… Những gì chúng ta nói ra đẹp nhất, và được nhớ mãi, đó là thơ.
Bản thân, tôi không đọc nhiều thơ nữa, rất ghét các “hội thơ”. Và tôi càng không quan tâm đến các vấn đề của toán học nữa. Tôi chẳng biết mấy bổ đề NBC giải được nó hay nó đẹp thế nào. Nếu là ngày xưa, chắc tôi sẽ phải mầy mò “cho biết” về các bổ đề Landan gì đó nhiều lắm…
Đó là những gì tôi có thể làm và đã làm, với toán và thơ, trong khoảng 20 năm nay. Không bị áp lực hay ảnh hưởng từ bố mẹ, các con tôi đều học giỏi theo cách mà chúng hạnh phúc thoải mái nhất.
Nếu các con tôi lại hỏi về Toán và Thơ, tôi sẽ vẫn nói lại: chúng rất quan trọng, không thể thiếu, hãy nắm vững chúng (hãy học giỏi), nhưng đừng quá đề cao chúng, càng không nên tôn thờ chúng, chúng chỉ là công cụ, không nên là mục đích (trừ khi con là NBC hay TĐK).
Còn rất nhiều việc khác và tuyệt vời hơn là làm Toán và Thơ
Quá yêu toán và thơ như rất nhiều người Việt hiện nay (như một quán tính vô thức từ quá khứ), là như chúng ta đang xài thuốc phiện hay ma túy để tự sướng vậy, điều đó sẽ chỉ làm bạn đói và lơ mơ trong cuộc sống mà thôi! Tất nhiên điều đó là rất không có lợi gì cho bạn. Nhưng điều đó phải có lợi cho ai đó thì nó – phong trào yêu toán và thơ điên cuồng ấy – mới “ngày càng phát triển” chứ?
Ai có lợi khi cả dân tộc cứ mãi “tự phê”, “tự sướng” bằng toán và thơ, tức là bằng ma túy trong đầu, bằng không khí? Hỏi đã là trả lời rồi.
Hãy tư duy, có quan điểm của mình, thể hiện ra, và bảo vệ nó, cho đến khi bạn thuyết phục được người khác hay bị người khác thuyết phục! Đó chính là điều tuyệt vời hơn “mê làm Toán và Thơ” kiểu đa số người Việt hôm nay, vì như thế là chúng ta luôn cùng phát triển. Chỉ như vậy chúng ta mới không là nạn nhân của, hay tiếp tay cho, chế độ cộng sản luôn ngu dân và mị dân này.
Phan Châu Thành


05-03-2014

HOA HOÀNG SA - QUÀ MÙNG TÁM THÁNG BA.


Đã vào những ngày đầu tiên của tháng ba - một tháng đặc biệt mà người Việt nên ghi nhớ:
Tháng của: “mùa con ong đi lấy mật
mùa em đi phát rẫy làm nương
Anh vào rừng đặt bẫy,gài chông
Cha chọn một góc rừng dạy con trai phóng lao trừ hổ báo...
Tháng của: “hội lồng tồng
xuống đồng thêm vui...
Tháng có niềm vui của các mẹ,các chị ,các em.
Tháng của trồng cấy -hứa hẹn vào tương lai...
Song chúng ta càng không thể quên - tháng 3 năm ấy - tổ quốc việt nam dã mất đi thêm một phần mau thịt đó là HOÀNG SA và TRƯỜNG SA.
Nhân dịp ngày vui của các mẹ, các chị, các em - gần ngày đau thương của Tổ Quốc khi mất một phần cơ thể - ngay mà tất cả nhưng người Việt nam yêu nước không thể không suy tư trầm mặc và suy nghĩ - ngày 14 - 3.

Công ty tự động hóa và ứng dụng TOÀN NGHĨA xin giới thiệu bát hoa và lẵng hoa: HOÀNG SA
Bát hoa HOÀNG SA được trồng bằng các loại rau khac màu mà các chiến sĩ ta bảo vệ lãnh hải của tổ quốc Việt nam - thường dùng hàng ngày. Với sức sống mãnh liệt - không quản sóng gió của các loai rau-hoa này đã chuyển vào cơ thể của chiến sỹ ta ngày đêm bảo vệ tổ quốc.
Hoa HOÀNG SA xẽ được các đôi trai gái tặng nhau, nhắc nhở nhau tình yêu đôi lứa chỉ có thể được sinh ra và nuôi dưỡng trong tình yêu TỔ QUỐC.
Hoa HOÀNG SA xẽ được cùng thắp hương tưởng nhớ những anh hùng đã hy sinh thân mình bảo vệ tổ quốc Việt nam không phân biệt ý thức hệ - sự hy sinh của họ đều cao cả như nhau.
Hoa HOÀNG SA để tặng.
Hoa HOANG SA để bán không lợi nhuận .
Hoa Hoàng sa đươc gắn thêm biểu tượng một người anh hùng - và một chiến ham anh hùng đã anh dũng hy sinh khi bảo vệ lãnh hải của TỔ QUỐC.
CÔNG TY CỔ PHẦN TỰ ĐỘNG HÓA VÀ ỨNG DỤNG TOÀN NGHĨA.
------------------------------------
Các bạn cần hoa HOÀNG SA liên hệ : Hoàng minh Tú
01685729196
Các bạn ở xa có thể liên lạc xin tư vấn tự trồng lấy để tặng - chúng tôi xẽ gửi biểu tượng qua mail.
-------------------------------------
Để lấy thêm tư liệu:
GOOGLE:
"hay cho cac anh mot ngay gio"
"bat rau sach cho moi nha"
YOUTUBE:
"VI TOAN NGHIA"
Được phép sử dụng tất cả tư liệu (ảnh,băng hình) – với điều kiện không tẩy xóa và sửa chữa.

Kĩ sư 
Vi Toàn Nghĩa
0982269462.

Độc giả có thể xem thêm về "Hộp rau sạch cho mọi nhà" của Kĩ sư Vi Toàn Nghĩa
và "Hãy cho các anh một ngày giỗ". 

07-01-2014

chỉ cần lòng tin là đủ

anh không còn nữa những băn khoăn
về những thoáng qua vội vàng
anh hiểu
thứ tình sét đánh là hư ảo
cần thời gian để định dạng lòng mình
vì cuộc đời đâu chỉ mộng với mơ
thực tế là gì? những điều nhỏ nhất
cơm ăn hàng ngày, áo ta phải mặc
mua đất xây nhà bằng đồng lương còm cõi
để yêu em
ta phải cố gắng nhiều
dù không thể ngăn mặt trời tắt cuối chiều
dù không thể che nắng chói cho da em nhuốm màu
anh có thể mang điện về xua đi tăm tối
trồng cây xây nhà che cái nắng giữa trưa
chẳng cần mơ ước ở đâu xa
chỉ cần lòng tin là đủ
dựa vào nhau xuyên qua thời gian có hạn
đã định sẵn cho mỗi một con người... 

Chia sẻ:

Tổng số lượt xem trang